Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghề giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghề giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Nhạc sỹ Văn Giảng

Cùng trong loạt bài Mùa tựu trường nhớ Thầy cũ:
Thầy Chương
Thầy Marc



Bài viết  cảm động về Thầy Ngô Văn Giảng - nhạc sỹ Thông Đạt  tác giả nhiều bài tân nhạc nổi tiếng trong đó có bài Ai Về Sông Tương. Mời các anh chị nghe lại bài hát này qua giọng ca của Hà Thanh.                                        
Thầy Ngô Văn Giảng vừa tạ thế tại Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, Huế. Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Đức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường.

Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu: “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…” Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lập tức nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Đây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Đêm Mê Linh, Qua Đèo, Nhảy Lửa…

Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi. Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả là Thông Đạt có lẽ ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu buồn.

Hai niên khóa học với nhạc sĩ Văn Giảng, tôi thích học nhạc thì ít mà mê Thầy kể chuyện thì nhiều. Cứ mỗi cuối giờ, Thầy có một câu chuyện kể về các giai thoại âm nhạc. Thích nhất là những chuyện thâm cung bí sử của những nghệ sĩ âm nhạc tài hoa. Chẳng hạn như bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác, Thầy xướng âm lên và phân tích cho chúng tôi nghe rằng, tiết điệu của bài ca đó có những trường canh trãi dài xa vắng và âm hưởng thương nhớ quặn lòng “rất Tây Phương” vì đây là bản nhạc do một người lính Đức trong đội quân viễn chinh của Pháp viết lên giai điệu. Nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ soạn ca từ… Hoặc như bản nhạc Trầm Hương Đốt của Bửu Bác, xuất xứ là bài Hải Triều Âm. Đây là một trong những bản nhạc nghi lễ đầu tiên dùng trong sinh hoạt chùa viện đã bứt phá từ giai điệu ngũ âm “Đăng Đàn Cung” để tiến lên bát cung của phương Tây. Bởi vậy mà ảnh hưởng âm điệu “thánh ca nhà thờ” như âm vang trầm trầm không cao không thấp quá tầm uyển thanh của organ thể hiện rất rõ trong giai điệu của bản nhạc.

Nhưng thú vị hơn cả là lịch sử bản nhạc Ai Về Sông Tương. Thầy kể rằng, thời trai trẻ, Thầy ở Thành Nội và yêu một cô gái ở Kim Long – Kim Long có gái mỹ miều; trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi… mà – nhưng duyên không thành vì gia đình nho phong của cô bé không có cái nhìn thiện cảm với đời nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ trong ngành âm nhạc, xướng ca… Thế là chia tay và cô bé đi lấy chồng!

Rồi một hôm, Thầy vào rạp Xi-nê Tân Tân, gần cầu Trường Tiền bên bờ Bắc sông Hương để coi phim “Bé Nhà Trời” (Les enfants du paradis). Ngay trước mắt Thầy, ờ hàng ghế trước có một cô Bé tóc dài. Tuy nhìn không rõ mặt nhưng từ dáng dấp đến hương tóc thoang thoảng mùi hoa Ngâu của người thiếu nữ đã làm sống lại hình ảnh người tình Kim Long. Thầy bị xúc động đến nỗi không thể còn ngồi lại lâu hơn trong rạp chiếu bóng để xem phim, nên vội vàng ra khỏi rạp. Thầy cỡi chiếc xe đạp Dura Mercier của Thầy và đạp xe dọc theo bờ sông Hương để vô cửa Thượng Tứ vào nhà ở Thành Nội. Thoáng chốc dòng sông Hương hiện ra như là dòng sông Tương chia biệt trong truyện tình cổ thư Trung Quốc. Thầy vừa đến nhà là dựng ngay chiếc xe đạp ngoài hiên, đi nhanh vào nhà và vội vã sáng tác bản nhạc bằng tất cả sự hoài niệm và háo hức nghệ thuật với sự chấn động dị thường như phép lạ hóa thân. Bản nhạc Ai Về Sông Tương được viết ra trong vòng mười lăm phút!

Sau đó, Thầy bí mật ký tên là Thông Đạt và chép một bản gởi ra đài phát thanh toàn quốc là đài Pháp Á ở Hà Nội. Mấy hôm sau, Mạnh Phát vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ đã hát bản Ai Về Sông Tương lần đầu trên đài Pháp Á Hà Nội. Bản nhạc sáng tác năm 1949 đã nhanh chóng nổi tiếng trong toàn cả nước. Đã trải qua hơn 60 năm, những mối tình đã cũ, những hẹn hò thuở răng trắng tóc xanh đã thành “răng long đầu bạc”. Nhưng Ai Về Sông Tương vẫn mới như thời gian là nước chảy qua cầu, vẫn còn là tiếng lòng tình tự của những đôi tình nhân ước hẹn không thành. Bản nhạc với một giai điệu thướt tha lãng mạn, lời lẽ đậm nét hoài niệm trữ tình làm dậy lên nguồn tình cảm sướt mướt, mượt mà mà rất “sang” ấy như một dòng suối tươi tắn, mát dịu trong một hoàn cảnh tạm hồi sinh sau cuộc chiến:

Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương
Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương
Tâm hồn mơ bóng em luôn
Mong vài lời em ngập hương...

Cũng theo lời Thầy vui vui kể chuyện rằng, Mạnh Phát, là bạn thân của Văn Giảng, đã nhờ Văn Giảng đến nhà ấn hành tân nhạc gần như độc nhất thời bấy giờ là nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế do ông Tăng Duyệt làm giám Đốc để hỏi cho ra Thông Đạt là ai ngay sau khi bản nhạc phát trên đài Pháp Á. Thầy tảng lờ như không hay biết. Nhưng mãi đến ba tháng sau thì tông tích của Thông Đạt mới được tiết lộ. “Mạnh Phát vô Huế chơi khi biết tui là Thông Đạt, hắn đấm lưng tui thùi thụi như rứa thì thôi!” Thầy Văn Giảng cười vui kể lại.

Một lần trong giờ học nhạc, trò Nguyễn Xuân Huế là tay đọc tiểu thuyết đệ nhất trong lớp hỏi Thầy: “Thưa Thầy, tại sao mình có sông Hương, mình cũng có Hương giang đầu, Hương giang vỹ mà Thầy lại phải vay mượn sông Tương của Tàu như rứa ạ?”. Thầy trả lời, đại khái là tại sông Hương chưa có chuyện tình nào nổi tiếng trong tình sử như sông Tương. Tương Giang là một con sông ở Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Duyên Hải, chảy qua Hồ Nam dài hơn hai ngàn dặm. Còn ý “ai về sông Tương” của Thầy trong bản nhạc là bắt nguồn từ cảm hứng của bốn câu thơ tình sử trích từ khúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý, đời Hậu Chu. Nàng và Lý Sinh yêu nhau say đắm nhưng phải chia tay. Nàng làm thơ mong gửi gấm nguồn tâm sự đau khổ khi phải xa cách người yêu:

Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương Giang thủy

**

(Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau không thấy mặt
Cùng uống nước sông Tương)

Trong những ngày phong trào đấu tranh Phật giáo xẩy ra tại Huế năm 1963, có lần tôi gặp Thầy trên con đò Thừa Phủ, Thầy nói là lên chùa Từ Đàm nhưng đường sá trở ngại phải đi đò sang sông rồi đi bộ lên chùa. Khi đò ra giữa sông tôi nghịch ngợm hỏi Thầy: “Thưa Thầy, đã có ai về sông Tương chưa ạ?” Thầy cũng cười đáp lại: “Đối với tôi thì sông Tương là sông Hương. Tôi chỉ mong cuối đời về lại con sông này…” Ngày đó và bây giờ, tôi tự hiểu khái niệm “cuối đời về lại” của Thầy là linh khí của con người luân lưu sống giữa hồn thiêng sông núi. Nếu vậy, thì hôm nay Thầy đã về sông Tương.

Đó là lần cuối tôi gặp Thầy Văn Giảng. Nhưng sau đó không lâu, tôi lại được “gặp” Thầy qua một tác phẩm mang tính chất đạo ca của khách hành hương mà tôi đã gặp trên chuyến đò Thừa Phủ: Nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương Tôi. Lần nầy Thầy để tên tác giả là Nguyên Thông. Bản nhạc tuy được liệt vào thể loại nhạc tôn giáo nhưng cả giai điệu lẫn ca từ đã vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn của văn hóa chùa viện. Cảm quan nghệ thuật sáng tạo của người nhạc sĩ tài hoa đã dung hóa được tính chất tráng liệt của hùng ca như Thúc Quân, Lục Quân Việt Nam, làn điệu mượt mà lãng mạn của tình ca như Ai Về Sông Tương, Ai Đưa Con Sáo Sang Sông và biểu tượng thiêng liêng, siêu thoát của đạo ca như Mừng Đản Sanh, Ca Tỳ La Vệ, Từ Đàm Quê Hương Tôi:

Quê hương tôi miền Trung
Sớm hôm chuông chùa nhẹ rung
Tiếng muôn đời hồn tổ tiên kiêu hùng
Ôi uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm
Nơi yêu thương phát nguồn đạo vàng
Qua bao giông tố chùa Từ Đàm tôi vẫn còn…


Những nhạc sĩ tài hoa của nền tân cổ nhạc Việt Nam thuộc thế hệ Chiến Tranh Việt Nam lần lượt ra đi. Nghệ thuật và người nghệ sĩ đến với đời và ra đi không bằng tấm vé một chiều. Tác phẩm để lại cho thế hệ kế thừa sẽ làm cho con đường sáng tạo nghệ thuật rộn ràng và phong quang hơn. Với hơn 50 tác phẩm âm nhạc phong phú giá trị nghệ thuật để lại cho đời, nhạc sĩ Văn Giảng đã cống hiến phần tinh hoa lớn nhất của đời mình vì lợi lạc của tha nhân mà các nhà tu Phật giáo thường gọi là “công hạnh viên thành”. Thế hệ đàn em, học trò như chúng tôi có điểm tựa tinh thần đáng tự hào cùng tấm lòng trân trọng trong giờ phút tưởng niệm và bái biệt Thầy.

Sacramento, mùa hoa sen tháng tư, 2013
TRẦN KIÊM ĐOÀN



Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Buồn vui nghề dạy học

Cùng trong loạt bài Một Thời Để Nhớ


V
ào giữa niên học 1962-63, tôi được đổi từ Vĩnh Long về Mỹ Tho. Vì đổi vào giữa năm như vậy, nhà trường không thể xếp đủ giờ cho tôi…hành nghề. Ông giám học phải cắt xén bớt một số giờ của các giáo sư khác để tôi không phải “ngồi chơi xơi nước” mà cuối tháng vẫn cứ được nhà nước trả lương. Vì tôi là một giáo sư mới, nhà trường chưa biết khả năng của tôi nên không thể cho tôi phụ trách những lớp đi thi. Tôi ăn lương giáo sư đệ nhị cấp, không thể cho tôi dạy những lớp nhỏ. Sau khi tính toán, đắn đo, ông giám học cho tôi vào mấy lớp đệ Tam. Cách giải quyết đó vừa là một biện pháp ưu đãi (vì ông là bạn đồng môn của tôi ở sư phạm) vừa là một cách thử tay nghề. Ai cũng biết học sinh lớp đệ Tam quậy nhất trong bảy lớp trung học. Các em mới ra khỏi bậc đệ nhất cấp nên vẫn thuộc loại ”ăn chưa no, lo chưa tới”, lại chưa phải lo thi. Nhiều em nghịch ngầm và thường che chở lẫn nhau nên giáo sư khó tìm ra thủ phạm.
Hào hoa của Kim Trọng
Năm ấy, trong những lớp đệ Tam do tôi phụ trách, có một lớp văn chương. Học văn chương thì cũng quậy theo văn chương. Nói cho ngay, dùng chữ “quậy” không đúng với các em trong lớp này. Các em có những câu hỏi về văn chương làm giáo sư cũng khó trả lời.
Một hôm, tôi giảng Kiều, đoạn Kim Trọng lấy được chiếc thoa cài tóc của Thúy Kiều, một học sinh có ý kiến :
- Thưa thầy, theo em, Kim Trọng là một tên ăn cắp, đã với tay sang nhà hàng xóm lấy đồ.
            Cả lớp, kể cả tôi, đều ngạc nhiên về ý kiến mới lạ này. Tôi hỏi tại sao em lại nói như vậy, em bình tĩnh đáp :
- Thưa thầy, em xin đọc lại đoạn văn này để cả lớp cùng nhận định.
Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai.
Cách tường phải buổi êm trời,
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm, xốc áo, vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
Giơ tay, với lấy về nhà:
“Này trong khuê các đâu mà đến đây?...”

Như vậy, rõ ràng là Kim Trọng thò tay sang nhà hàng xóm lấy trộm kim thoa.
Cả lớp im lặng như tờ, chính tôi cũng chưa biết nói sao. Ngưng một chút, em tiếp:
- Thưa thầy, phải giơ tay, với mới tới thì chắc chắn chiếc thoa phải ở sâu trong vườn nhà Kiều, chớ không ở sát bờ rào. Hàng xóm nhà em có một cây mận gần bờ rào. Nếu cành mận xòa hẳn sang vườn nhà em, em mới có quyền hái trái mà không bị tiếng là ăn trộm. Em mà bắt chước Kim Trọng với tay sang nhà hàng xóm lấy đồ, chắc chắn sẽ bị đánh què tay.
Ngay lúc đó, tôi không biết nói sao, vì lý lẽ của em học sinh đúng quá. Ðưa tay sâu vào vườn nhà người khác để lấy đồ vật không phải của mình chắc chắn là một kẻ ăn trộm. Nếu, vì một lý do nào đó, đồ của mình rớt vào vườn nhà người ta, muốn lấy lại, mình cũng phải xin phép chủ nhà đàng hoàng, không thể tự tiện thò tay vào lấy. Học sinh trong lớp bắt đầu xôn xao bàn tán. Ai cũng khen ý kiến của bạn là đúng, là độc đáo. Một em học sinh khác bỗng nói lớn :
- Vậy mà cứ khen là “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” Hào hoa mà đi ăn trộm đồ nhà hàng xóm.
Thế là cả lớp cười ồ lên. Tôi cũng đành cười theo. Em học sinh vừa có ý kiến độc đáo lại nói thêm :
- Thưa thầy, đã không biết mắc cở, sáng hôm sau Kim Trọng còn bắt bí Thúy Kiều phải thề thốt nữa. Như vậy là tống tình chớ không phải tỏ tình.
Cả lớp lại cười.
Tối hôm đó, tôi tìm trong bản Kiều dịch sang tiếng Pháp xem những chữ “giơ tay với lấy” đã được dịch như thế nào. Theo bản dịch của giáo sư Nguyễn Cửu Chấn thì bốn chữ đó được dịch như sau: « Etendant le bras, il prit l’objet et le ramenant chez lui ». Ðã hơn bốn chục năm qua, tôi không dám chắc câu dịch vừa kể hoàn toàn đúng 100%, nhưng nếu sai cũng không sai bao nhiêu. Như vậy là rõ ràng Kim Trọng đã đưa tay sâu vào vườn nhà người khác, không phải như chàng nói với Kiều vào sáng hôm sau: « Thoa này bắt được hư không, Biết đâu Hợp phố mà mong châu về ».  (Bắt được hư không nghĩa là vô tình mà nhặt được). Sau này, khi đã sang Mỹ, nhớ lại chuyện cũ, tôi xem bản tiếng Anh của giáo sư Huỳnh Sanh Thông: « He reached for it and took it home ».
Em học sinh có ý kiến độc đáo này sau khi đậu tú tái, lên Saigon học Triết ở đại học Văn khoa. Vì bận học, em ít liên lạc với tôi, rồi dần dần biến luôn. Nhưng tôi tin em đã trở thành một giáo sư Triết xuất sắc.    
Cơn đằng Tây
Trong một lớp học, thầy giảng về ca dao, tục ngữ, nói tới kinh nghiệm của người nông dân trong việc theo dõi thời tiết để canh tác.. Nào là “Mống đông, vồng tây, chẳng mưa dây cũng gió giật”, nào là “cơn đằng Ðông vừa trông vừa chạy, cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi”…Một nữ sinh ngồi bàn đầu hỏi :”Thế còn cơn đằng Bắc và đằng Tây thì sao?” Thầy chưa kịp trả lời vì trong ca dao, tục ngữ không nói tới cơn mưa ở hai phương đó, một nam sinh ngồi ở cuối lớp, tục gọi là “xóm nhà lá” vì nơi đây quy tụ phần lớn các học sinh nghịch ngợm, phá phách, bỗng nói lớn :”Thì vác chầy mà lộn chớ còn sao nữa.” Thoạt mới nghe, cả lớp không có phản ứng gì, thầy giáo cũng ngơ ngác không hiểu sao phải vác chầy mà lộn. Nhưng chỉ nửa phút sau, một nữ sinh khác mắng nho nhỏ :” Ðồ quỷ ! Chỉ ăn nói bậy bạ.” Thế là cả lớp hiểu ra, liền cười phá lên như một cái chợ vỡ. Thầy giáo cũng cười theo dù đã cố nhịn. Thầy cũng thầm phục cậu học sinh “nhỏ tuồi mà tài cao” Thầy cho rằng sự nghiệp văn chương trào phúng  của cậu chắc phải chói lọi lắm, nếu cậu lao vào “trường văn trận bút”. Chỉ tiếc rằng sau đó thầy hỏi “quý danh phương tánh” của cậu mà không ai chịu tiết lộ.                                    
Cây trúc xinh
 Cũng trong giờ giảng về ca dao, tục ngữ, thầy đề cập tới những lời tình tứ của con trai dành cho con gái, như :
Trúc xinh, trúc mọc đầu đình,
Em xinh, em đứng một mình cũng xinh
hoặc
Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh, em đứng chỗ nào cũng xinh.
 
Một vài nam sinh xì xào bàn tán: ”Các cụ nhà ta nịnh đầm cũng một cây xanh rờn. Ngày nay đố có ai theo kịp.” Sau tiếng xì xào liền có những tiếng cười khúc khích. Thầy không phản ứng gì vì cho là câu nói đùa vô hại. Thầy định đọc thêm mấy câu ca dao tình tứ nữa , bỗng ở cuối lớp, một nam sinh gọi tên một nữ sinh thật lớn:
- Ngọc Hoa ơi! Trúc xinh trúc mọc trong vườn, Hoa xinh Hoa có cởi truồng cũng xinh.
Tức thì cả lớp cười phá lên.  Trò Ngọc Hoa ngồi ngay bàn đầu mặt đỏ ửng, nhưng cũng cười theo cả lớp. Thấy cũng không nhịn được cười và thầm phục tên học trò nhanh trí đã “phóng tác” cấp thời  để cả lớp cùng vui.
Tình không đợi tuổi
Tôi đang tìm cách đổi giờ cho một giáo sư vì ông mới được một trường tư mời dạy mà thời khóa biểu của trường tư lại trùng với trường công mấy giờ thì cửa phòng bật mở. Một nữ giáo sư hầm hầm bước vào phòng mà không báo trước. Tôi vội ngửng lên, nhận ngay ra vẻ tức tối của bà. Mặt đỏ ửng và hai mắt rưng rưng. Bà là một nữ giáo sư trẻ mới đổi về trường đầu niên khóa này. Bà thuộc loại xinh xắn, duyên dáng, lại mới có con đầu lòng. Nhiều nam giáo sư trong trường còn độc thân cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ vì đã không được gặp bà khi bà chưa có chồng. Một ông dạy quốc văn mỗi khi được gặp cô trong phòng giáo sư lại ông ổng ngâm bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa…”  Bà bước thẳng đến bàn giấy của tôi, ném lên mặt bàn một tờ giấy gấp tư, rồi nói :
”Ông giám học xem thế này có láo không?”
Tôi thong thả mở ra đọc. Ðó là một bức thư tình ngắn ngủi.
 “Lệ Hương yêu mến,
“Anh yêu em tha thiết. Hãy bỏ chồng để lấy anh.”
Nguyện Văn Thưởng.”
Lệ Hương là tên cô giáo, còn Nguyễn Văn Thưởng thì tôi không biết là ai. Chỉ đoán lờ mờ là một tên học trò nào đó vì tuồng chữ còn non nớt. Tôi hỏi bà Hương ai đã gửi cho bà thư tỏ tình này ?  Bà cho biết đó một học sinh lớp Tám (trước kia là đệ ngũ). Tôi ngạc nhiên vì học sinh lớp Tám chỉ mới 13, 14 tuổi. Tuổi này cònh ham chơi, đâu đã biết yêu với thương. Không những thế, nó còn dám viết thư tỏ tình với cô giáo của mình. Tôi vội mở tủ tìm học bạ của nó để tìm hiểu. Nó thuộc loại học trò trung bình. Tôi ghi tên cha mẹ và địa chỉ của nó và quyết định phải giải quyết chuyện này nhanh chóng vì nếu còn tên học trò mất dạy này thì bà Lệ Hương không thể vào lớp đó được. Tôi tạm cho bà nghỉ dạy lớp này một tuần. Giờ của bà sẽ có giám thị vào giữ trật tự. Tôi viết thư mời bố mẹ nó đến gặp tôi gấp. Khi bố nó tới, tôi đưa lá thư của con ông ta viết cho bà Lệ Hương để ông hiểu rõ vấn đề mà không cần nói lôi thôi dài dòng. Đọc xong, ông tỏ vẻ ngượng ngùng, rồi ấp úng hỏi:
“Thầy tính sao ?”
Tôi đáp :
“Đó là lý do tôi mời ông đến đây.”
Suy nghĩ một lúc, ông khẽ thở dài nói :
“Tôi đành xin chuyển trường cho nó.”
Tôi đồng ý ngay :
“Đó là một biện pháp tốt đẹp.”

X X
X


Cuộc đời dạy học của tôi nhiều vui hơn buồn dù tôi đã từng bị học sinh thân cộng sách động biểu tình, bãi khóa trên sân trường để phản đối tôi. Ngoài những tên học trò thân cộng ấy, tôi được nhiều học sinh quý mến mà cho đến nay, sau 40 năm rời khỏi trường vẫn liên lạc thường xuyên với tôi qua điện thư hoặc thư gữi bưu điện.