Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Mời viết bài cho Đất Lạnh Xuân Giáp Ngọ 2014



Mời viết bài cho Đất Lạnh Xuân Giáp Ngọ 2014

21/12/2013

Thưa các anh chị, các bạn,

Như đã viết trong lá thơ ngỏ vừa qua về Đất Lạnh:

"...Mong các anh chị và các bạn tìm được trong những trang blog Đất Lạnh  những tâm tình, những tâm sự, những dấu  yêu của một thời đã qua mà chúng ta muốn đọc lại để nhớ, hay viết lại để đừng quên, để chia sẻ ... những kỷ niệm, những vui buồn, những thương yêu... giữa con người, giữa bạn bè, giữa thầy trò hay giữa những người vừa quen biết. Mong Đất Lạnh mãi mãi vẫn là miền đất lạnh tình nồng mà mỗi người bất luận là cựu sinh viên, là thân hữu, là người Việt ở Québec hay một nơi nào khác trên thế giới, trong một khoảnh khắc nào đó, đều có thể cảm nhận được những thương yêu, tình cảm gắn bó giữa người và người.

Đất Lạnh với chủ đề Mùa Thu đã được thực hiện với nguyện ước làm sống lại cái gia tài quí báu mà các đàn anh của những năm 1960 đã để lại cho chúng ta. Hy vọng "Mùa Đông sắp đến trong thành phố...." sẽ là thời gian để chúng ta cùng nhau sửa soạn đóng góp cho Đất Lạnh Mùa Xuân 2014, ước mong cũng sẽ đượm tình và hào hứng như Đất Lạnh đầu tiên của Tết 1962".

Trong tinh thần đó, mong các anh chị và các bạn tiếp tục cùng Ban Biên Tập thực hiện số blog Đất Lạnh Tết Giáp Ngọ (Xuân 2014?) sắp tới. Hiện tại đã có một số bài nhận được từ các cộng sự viên đắc lực, và cũng có những hứa hẹn của 3 Đầu Rùa với Sớ Táo Quân, PDChí với Thơ Từ Saigon (tổng kết chuyện đã qua / phỏng đoán chuyện sẽ tới), NDVinh với Cái Nhìn Từ Bên Ngoài VN, DTChí với bài Khai Xuân Con Ngựa, cùng những tranh, ảnh làm nền, bìa cho các bài viết do Eric Võ, Nguyễn Tài, cùng Lê Phan Lân, Vĩnh Huy sẽ là những đóng góp tươi vui đầy mầu sắc...; anh ĐĐViên đặc biệt hăng hái hơn mọi lần, để đánh dấu 50 năm hợp tác của anh với ĐL; riêng huynh trưởng NNĐịnh sẽ có “bút ấn” để tặng cho độc giả Đất Lạnh một vài câu đối Tết... Tất cả đều đồng tâm hợp sức để thực hiên Số Đất Lạnh 2014 cho Tết Con Ngựa Vui Cười, cũng không còn bao xa (mùng 1 Tết = 30/janvier 2014).

Và để đánh dấu ngày cuối cùng Mùa Thu 2013 bước qua đầu Mùa Đông Đất Lạnh Tình Nồng, xin thay mặt Điệp gởi đến các anh chị và các bạn "Bài Thơ Cuối Cùng" qua tiếng hát của Hà Thanh trước những năm 1975 và tiếng đàn guitare độc đáo của nhạc sĩ Lê Vinh Quang.

Nhân dịp này, tôi cũng xin gởi đến các anh chị, các bạn và gia đình những lời cầu chúc cho một Giáng Sinh và một Năm Mới An Khang và Hạnh Phúc.

Thân kính,
Lưu Quang Trung
Chủ nhiệm
Thay mặt Ban Biên Tập và Điệp


Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Nhạc sỹ Việt Dzũng từ trần

Mục điểm báo

Nhạc sỹ Việt Dzũng từ trần

Trích từ BBC Tiếng Việt Cập nhật: 10:11 GMT - thứ bảy, 21 tháng 12, 2013

Nhạc sỹ và ca sỹ Việt Dzũng, tác giả của nhiều ca khúc trong đó có Một Chút Quà Cho Quê Hương, vừa qua đời ở tuổi 55 tại California sau một cơn trụy tim.



Thông cáo trên diễn đàn của Trung tâm Asia cho biết ông từ trần vào lúc 10 giờ 35 phút sáng ngày 20/12/2013, giờ địa phương, tại bệnh viện Fountain Valley, Quận Cam.
Ông được biết đến rộng rãi không chỉ với vai trò là người dẫn chương trình cho chương trình ca nhạc của Trung tâm Asia mà còn bởi các hoạt động đấu tranh, cổ súy cho phong trào dân chủ trong nước.
Phản ứng về việc ông Việt Dzũng ra đi, hôm 21/12, nhạc sỹ Nam Lộc, một thành viên từ Trung tâm Asia nhận xét ông Dzũng là 'một thiên tài', một người sống và làm việc cần mẫn, chăm chỉ suốt đời 'vì lý tưởng tự do cho cộng đồng, cho tha nhân và dân tộc'.
Theo ông Nam Lộc, nhạc sỹ Việt Dzũng chỉ có một mục đích sống đó là 'đóng góp cho nghệ thuật và đóng góp cho quê hương, đất nước', cũng như không ngừng lên tiếng giúp 'những người không thể lên tiếng bảo vệ mình'.
"Việt Dzũng ra đi là một sự mất mát rất lớn lao... Trước hết đối với cộng đồng, chúng ta mất đi một chiến sỹ luôn luôn tranh đấu cho tự do dân chủ và cho nhân quyền," ông nói với BBC từ Hoa Kỳ.
"Những người thấp cổ bé miệng mất đi một tiếng nói mạnh mẽ đại diện cho mình, đại diện cho những người muốn nói lên tiếng nói mà không nói được ở khắp mọi nơi trên thế giới,
"Trung tâm Asia mất đi một người cộng tác, một người cố vấn nòng cốt ở trong chương trình, cá nhân tôi mất đi một người bạn thân tình mà tôi quý mến," nhạc sỹ Nam Lộc chia sẻ.

Tiểu sử
Nhạc sỹ Việt Dzũng là người được biết đến với những
nhạc phẩm cổ súy cho phong trào dân chủ trong nước
Nhạc sỹ Việt Dzũng, tên thật là Nguyễn Ngọc Hùng Dũng, sinh ra tại Sài Gòn năm 1958 và là con trai của bác sỹ Nguyễn Ngọc Bảy, một cựu dân biểu dưới thời Việt Nam Cộng hòa.
Ông vượt biên sau biến cố 1975 khi mới 17 tuổi, và trong 38 năm định cư tại Hoa Kỳ, ông chưa từng quay trở lại Việt Nam.
Ông bắt đầu đi theo sự nghiệp âm nhạc từ năm 1978 và sáng tác những bài nhạc Việt đầu tay cũng trong năm này, trong số đó có nhiều bài hát viết cho người Việt tỵ nạn và lên án chính quyền trong nước.
Năm 1978, ông gặp ca sỹ Nguyệt Ánh và hai người đã lưu diễn khắp các tiểu bang Mỹ cũng như tại các tòa lãnh sự, sứ quán Mỹ ở các quốc gia châu Á.
Các bài hát và hoạt động của ông và ca sỹ Nguyệt Ánh là lý do khiến cả hai sau đó bị chính quyền Việt Nam tuyên án tử hình vắng mặt. Các tác phẩm của ông cũng bị cấm phổ biến trong nước.
Năm 1996, ông đồng sáng lập chương trình phát thanh Radio Bolsa, phát thanh ở Nam California, Bắc California Houston và Texas.
Cũng trong năm 1996, ông trở thành người dẫn chương trình cho Trung tâm Ca nhạc Asia, bên cạnh đó, ông cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN - hai tổ chức đều do nhạc sỹ Trúc Hồ làm giám đốc điều hành.
Cho đến nay, ông đã có khoảng 450 nhạc phẩm là sáng tác của mình.

Phát biểu tại Asia 71
Một trong những phát biểu đáng chú ý của ông gần đây, đó là tại đêm nhạc Asia 71 mà ông làm người dẫn chương trình hồi tháng Một năm nay.
Trong phần giới thiệu về bài hát 'Triệu con tim' của nhạc sỹ Trúc Hồ, được viết để cổ động cho phong trào thỉnh nguyện thư nhằm kêu gọi quốc tế gây sức ép đối với chính quyền Việt Nam về nhân quyền, ông đã đề cập đến trường hợp những nhà bất đồng chính kiến bị cầm tù trong nước.
"Ngày 24/9 năm 2012, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, bất chấp dư luận quốc tế, đã đưa ba nhà yêu nước ra tòa là các blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Anh Ba Sài Gòn, tức luật sư Phan Thanh Hải," ông nói.
"Cả ba đã bị tuyên án rất nặng, từ bốn năm đến 12 năm tù vì tội gọi là Tuyên truyền chống Nhà nước."
"Cả ba bị bắt và bị kết án chỉ vì một lý do duy nhất: Họ là những người dám lên tiếng cảnh báo về âm mưu xâm lăng của Trung Quốc và tham vọng bá quyền muốn chiếm biển đảo của Việt Nam."
Chỉ một tháng sau, ngày 30/10, tòa án Việt Nam cũng tuyên án nặng cho hai nhạc sỹ yêu nước là Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, tác giả hai nhạc phẩm "Anh là ai" và "Việt Nam tôi đâu".
"Đây là những bản án phi lý nhất mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam có thể áp đặt lên những tù nhân lương tâm chỉ vì họ có một cái tội duy nhất, đó là bày tỏ lòng yêu nước của mình," ông nói thêm.
Cuối phần giới thiệu của mình, ông nói ca khúc 'Triệu con tim' sẽ "thay thế cho những người ở Việt Nam bị bịt miệng không được cất tiếng nói".
Đĩa Asia 71 cũng như bài hát này đã bị chính quyền Việt Nam cấm phổ biến trong nước, tuy nhiên chúng vẫn được lan truyền rộng rãi trên mạng và cho đến nay đã thu hút tổng cộng hơn một triệu lượt xem trên YouTube.

Phản ứng trong giới nghệ sỹ

Ngay sau khi tin từ trần của nhạc sỹ Việt Dzũng được loan tải, nhiều ca sỹ, nhạc sỹ trong và ngoài nước đã viết những dòng tưởng nhớ đến ông.

MC Nam Lộc nói nhạc sỹ Việt Dzũng làm việc nhiều lúc quá sức.
Nhạc sỹ, MC Nam Lộc, đồng nghiệp và thân hữu với ông Việt Dzũng nói nhạc sỹ vừa quá cố chỉ có một mục đích sống đó là 'đóng góp cho nghệ thuật và đóng góp cho quê hương, đất nước', cũng như không ngừng lên tiếng giúp 'những người không thể lên tiếng bảo vệ mình'.
"Việt Dzũng ra đi là một sự mất mát rất lớn lao...", nhạc sỹ chia sẻ cảm xúc từ Hoa Kỳ.
"Trước hết đối với cộng đồng, chúng ta mất đi một chiến sỹ luôn luôn tranh đấu cho tự do dân chủ và cho nhân quyền,
"Những người thấp cổ bé miệng mất đi một tiếng nói mạnh mẽ đại diện cho mình, đại diện cho những người muốn nói lên tiếng nói mà không nói được ở khắp mọi nơi trên thế giới,
"Trung tâm Asia mất đi một người cộng tác, một người cố vấn nòng cốt ở trong chương trình, cá nhân tôi mất đi một người bạn thân tình mà tôi quý mến," ông nói với BBC hôm 21/12/2013.

Nhạc sỹ Trúc Hồ viết trên Facebook:
Việt Dzũng là một người sống có đức nên ra đi nhẹ nhàng lắm ... không đau đớn gì cả.
Hãy yên tâm mà đi nhé bạn hiền ... chắc chắn các thế hệ sau sẽ tiếp nối con đường của bạn hiền đã đấu tranh trên 35 năm qua cho một đất nước Việt Nam được công bình và tự do.
Một trái tim, một tấm lòng nặng với mẹ Việt Nam ... đứa con thân yêu này của Mẹ hôm nay đã ra đi nhưng dòng nhạc bất tử vẫn còn mãi mãi ở lại với đời.

Nhạc sỹ Tuấn Khanh bình luận:
"Với nhiều người, nhạc sĩ Việt Dzũng được coi là tấm gương hoạt động và tranh đấu đáng ngưỡng mộ, với một số người khác, nhạc sĩ Việt Dzũng được xem như là nhân vật đối lập không thể chấp nhận được của Nhà nước Việt Nam.
"Vài năm sau biến cố tháng 4-1975, trong bối cảnh đời sống xáo động và còn nhiều chủ trương cực đoan, ông và nhạc sĩ Nguyệt Ánh từng bị nhà nước Việt Nam kết án tử hình vắng mặt.
"Khi còn sinh thời, nhạc sĩ Việt Dzũng từng nói đùa rằng ông đợi nhạc sĩ Việt Khang ra tù để kết nghĩa anh em, vì có cùng chữ "Việt" trong nghệ danh, cũng như cùng tâm hồn tranh đấu. Nhưng nay thì ước muốn đó đã không thể thành sự thật."

Ca sỹ Tóc Tiên viết trên Facebook:
"Một người vừa nằm xuống ... lặng lẽ cả buổi chiều!
"Dạo gần đây tôi hay nghĩ và nói rằng "biết đâu không gặp nhau nữa", ít nhiều đã có những chuẩn bị cho riêng mình...
"Nhưng biết làm gì đây với những "ra đi" không được chuẩn bị trước ..."




Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Bài thơ cuối cùng



Tháng Chạp sương mù


Mây giăng che khuất chân trời
Buồn giăng cho kín quãng đời lưu vong
Bây giờ lại một cuối năm
Quê hương vẫn ở xa xăm dặm ngàn
Đã đành lịch sử sang trang
Bến trong, bến đục tuôn tràn, trả, vay
Nhớ, quên không thể một ngày
Đời sau chưa tới, đời này lỡ trao.
Hải âu soải cánh bay cao
Mù xa chẳng biết phương nào tìm nhau
Trang kinh thì đã thuộc làu
Mà sao đời vẫn biển dâu ngút ngàn
Đường về xứ Phật quan san
Cõi trần còn mãi kết ngàn tơ vương
Trăm năm rồi cũng vô thường
Hải âu mỏi cánh, mười phương lại về
Sương mù tháng Chạp lê thê...
Ở đâu bến giác, bờ mê cũng gần
Hỏi người: sao mãi phân vân...

 Ngọc Hoài Phương

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Thơ ngỏ thay lời tòa soạn

Thơ ngỏ thay lời tòa soạn

Thưa các anh chị, các bạn,

Cùng với những chiếc lá còn lại rơi vào cuối Thu, xin gởi đến các anh chị và các bạn những bài viết cuối cho Đất Lạnh Mùa Thu 2013, đánh dấu một thời điểm cuộc vui chóng qua của Họp Mặt 2013.

Mong các anh chị và các bạn tìm được trong những trang blog này những tâm tình, những tâm sự, những dấu yêu của một thời đã qua mà chúng ta muốn đọc lại để nhớ, hay viết lại để đừng quên, để chia sẻ... những kỷ niệm, những vui buồn, những thương yêu... giữa con người, giữa bạn bè, giữa thầy trò hay giữa những người vừa quen biết. Mong Đất Lạnh mãi mãi vẫn là miền đất lạnh tình nồng mà mỗi người bất luận là cựu sinh viên, là thân hữu, là người Việt ở Québec hay một nơi nào khác trên thế giới, trong một khoảnh khắc nào đó, đều có thể cảm nhận được những thương yêu, tình cảm gắn bó giữa người và người.

Đất Lạnh với chủ đề Mùa Thu đã được thực hiện với nguyện ước làm sống lại cái gia tài quí báu mà các đàn anh của những năm 1960 đã để lại cho chúng ta. Hy vọng "Mùa Đông sắp đến trong thành phố..." sẽ là thời gian để chúng ta cùng nhau sửa soạn đóng góp cho Đất Lạnh Mùa Xuân 2014, ước mong cũng sẽ đượm tình và hào hứng như Đất Lạnh đầu tiên của Tết 1962.


Nội dung Đất Lạnh Mùa Thu 2013 cho đến hôm nay:

9.        Tạ ơn - Marie Hồng



Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Những nhà văn, nhà thơ miền Nam trước 1975

Cùng trong loạt bài "Viết để nhớ!"

Hình như  đa số những đứa chúng tôi, những đứa học trường trung học Nguyễn Trãi SG và lớn lên ở miền Nam sau 1954, đứa nào cũng biết chút đỉnh về các văn thi sĩ miền Nam trước 75 (mà tôi viết tắt là VTSMNT75). 

Riêng cá nhân tôi vì đi phải rời quê hương sớm lúc còn trẻ nên tôi không biết nhiều về các VTSMNT75 và khi nói đến VTSMNT75 tôi chỉ nêu ra được một số tên tuổi các văn nghệ sĩ nổi tiếng thời tôi còn học ở trung học NT như Nguyễn Mộng Giác, Nhã Ca, Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Thị Hoàng, Duyên Anh, Hồ Hữu Tường, Vũ Khắc Khoan, Dương Nghiễm Mậu, Phạm Công Thiện, Thanh Tâm Tuyền, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên, Doãn Quốc Sỹ, Duy Lam, Vũ Hoàng Chương, Phan Nhật Nam, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nhất Linh, Nhật Tiến, Nguyên Sa, Nhất Hạnh và Tuệ Sỹ qua các tác phẩm tôi đã đọc được trước khi rời quê hương. Còn những tác phẩm của các  VTSMNT75 khác như Trùng Dương, Lê Huy Oanh, Thế Uyên, Tạ Tỵ, Tạ Ký, Ngô Thế Vinh, Thái Lãng, Nguyễn Đình Toàn, Tô Thùy Yên, Đỗ Quý Toàn, Đặng Tiến, Viên Linh, Quách Thoại, Nguyễn Sỹ Tế, ni sư Trí Hải v.v… thì mãi sau này tôi mới được dịp biết đến. Và tôi biết danh sách này chắc chắn vẫn còn rất nhiều thiếu sót và dần dà với thời gian tôi tin rằng sẽ có dịp được đọc thêm và bổ túc trong tương lai.

Có một số những VTSMNT75 mà tôi xin lược thuật dưới đây từ các tài liệu tôi thâu nhặt được trên mạng như talawas.org, http://vietsciences.free.fr/, và VN Thư Quán và những tác phẩm đã được ấn loát ở Hoa-Kỳ (qua Thư Ấn Quán của văn sĩ Trần Hoài Thư hiện cư ngụ ở Hoa Kỳ). Lược thuật này thật ra là để trả lời câu đố vui để học của nhóm NT chúng tôi tháng trước nhưng cũng là để giới thiệu một vài VTSMNT75 mà ít người biết đến, hoặc chỉ nghe tên nhưng chưa có dịp đọc tác phẩm của họ.

Tôi tìm thấy qua các tác phẩm đã đọc này một nền văn học trước 1975 mang đậm tính nhân văn mà các văn thi sĩ miền Nam đã góp phần bồi đắp. Những nhà văn nhà thơ này đã góp công xây dựng một nền văn học miền Nam, nay đã ít nhiều bị lãng quên, trong đó họ đã mang đến cho chúng ta những nét đẹp và những cảm nhận chân thật của văn học nghệ thuật miền Nam và họ chưa bao giờ phải đánh bóng cho chế độ hay xã hội khi họ đang sống và viết. Những tác giả đó là:

Võ Hồng: Ông sinh năm 1923, quê quán ở Phú Yên và cư ngụ tại Nha Trang (ông vừa qua đời gần đây). Trước 1975, ông từng là hiệu trưởng trường trung học Lương Văn Chánh (Phú Yên). Sau này ông dạy học ở Nha Trang. Ông xuất bản khoảng 30 tác phẩm, trước và sau 1975.  Người ta tìm đến ông, biết nhiều đến ông bởi nhân cách của ông trong cuộc sống và trên những trang giấy. Cũng như phần lớn người Việt chúng ta, Võ Hồng đã sống trong một bối cảnh bi thương của chiến tranh. Ông sống và viết bằng kinh nghiệm sống. Giọng văn ông bình dị, nhiều khi mộc mạc. Cuộc đời của ông là ngòi bút và những tác phẩm để trả nợ quê hương đã nuôi dưỡng ông. Những tác phẩm đặc sắc của ông gồm có: Một Bông Hồng Cho Cha, Áo Em Cài Hoa Trắng, Bên Đập Đồng Cháy, Thiên Đường Ở Trên Cao, Vẫy Tay Ngậm Ngùi, Trong Vùng Rêu Im Lặng, Chia Tay Người Bạn Nhỏ, Chúng Tôi Có Mặt, Trầm Tư, Hoài Cố Nhân, Vết Hằn Năm Tháng, Con Suối Mùa Xuân, Như Cánh Chim Bay, Người Về Đầu Non….

Xin các bạn hãy cùng đọc vài dòng trong Một Bông Hồng Cho Cha:
“Gần như mọi người con, cuối cùng đều âm thầm tự trách, lặng lẽ xót xa. Cha biết trước tâm trạng đó, phòng xa ngày nào mình từ trần con mới chợt ân hận muộn màng, nên trong mỗi bức thư gởi con, cha đều kết thúc bằng sự bằng lòng, rằng con đã học hành thành đạt và cha mãn nguyện, cha vui. Lòng vị tha, lòng hy sinh cho con kéo dài mãi sau khi nhắm mắt.
Báo hiếu đâu chỉ món quà, mà có thể đôi tháng gởi một bức thư. Nội dung đâu đòi hỏi cao siêu, chỉ cần mươi dòng lược kể một chuyện đã nghe, một điều vừa thấy. Thì cũng như bè bạn gặp nhau, chào nhau một câu rất nhảm mà vẫn rất cần. “Đi đâu đó? Mạnh giỏi?” Sinh nhật cha, tặng một cành hoa. Nếu ở thành phố xa, hai ba đứa con gởi về hai, ba bức điện chúc mừng, tốn không bao nhiêu mà tạo được sự rộn ràng tới tấp. Niềm vui tinh thần đâu thua bữa tiệc cao lương?
Ngày Vu Lan, nhiều chùa tổ chức lễ hội Bông hồng cài áo. Hoa hồng tượng trưng cho mẹ. Để tỏ lòng thương nghĩ tới cha, nhiều nơi buộc thêm dải nơ tượng trưng cho cha. Cha còn: nơ xanh. Cha mất: nơ trắng. Lễ đường xếp thành bốn dãy, dãy cha mẹ song toàn: hoa hồng nơ xanh. Mẹ còn, cha mất: hoa hồng nơ trắng. Mẹ mất, cha còn: hoa trắng, nơ xanh. Mẹ cha đều mất: hoa trắng, nơ trắng. Người dự lễ đứng theo hoàn cảnh của mình. Có lần, một em nhỏ tuổi chừng lên tám đứng trong hàng hoa trắng nơ trắng. Em nhìn quanh, tủi thân khóc òa và cả lễ đường cùng khóc òa theo.
Cha cũng như mẹ, rồi sẽ một ngày:
Đỉnh hoa biểu từ khơi bóng hạc
nên mỗi người con đều phải vội vàng. Trả hiếu không bao giờ đủ, không được coi là dư bởi tình cha thương con là “cho” chứ không phải “cho vay” để có thể gọi là trả đủ”

Y Uyên: Ông sinh năm 1943 tại làng Dục Nội (Hà Nội). Năm 1954 di cư vào Nam cùng gia đình, cư ngụ tại Hạnh Thông Tây (Gò Vấp). Ông Y Uyên tốt nghiệp sư phạm Sài Gòn năm 1964, dạy học và sau nhập ngũ khoá 27 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Mãn khoá về đóng tại Phan Thiết. Không lâu sau đó ông đã bỏ mình trong trận phục kích dưới chân núi Tà Lơn (Phan Thiết, có sách viết Tà Dơn) năm 1969. Ông được coi là một cây bút có phong cách viết riêng biệt và hầu như tất cả những tác phẩm của ông đều viết về chiến tranh. Tuy thế, những chuyện ông viết về chiến tranh không bao giờ có súng đạn nổ ầm ĩ hay cảnh quân hai bên bắn nhau như cách viết của Phan Nhật Nam mà lại là những điều bị cuộc chiến xô đẩy tới bờ vực của đổ nát, tang thương. Những tác phẩm đặc sắc của ông gồm có: Tiền Đồn, Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp, Bên Ngoài Khán Đài, Bão Khô, Mùa Xuân Mặc Áo Vàng, Cỏ Heo May Hà Nội…Các bạn có thể vào tủ sách của talawas.org để đọc trọn vẹn truyện Bão Khô của Y Uyên.

Hoài Khanh:  Ông sinh năm 1923 tại Phan Thiết. Hiện cư ngụ trong nước. Trước 1975 ông là thư ký toà soạn tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ. Ông đã xuất bản trên 10 tác phẩm gồm thơ và các sách chuyển ngữ. “Dâng rừng” là tập thơ đầu tay của ông xuất bản năm 1957. Trích đây một đoạn thơ của Hoài Khanh để chúng ta cùng hình dung tính chất bình dị hồn nhiên trong cách sử dụng ngôn ngữ đầy rung cảm của ông:

            Vì em là tiếng thiên thu
            Hoá thân vô cõi ngục tù nhân gian
            Cho nên mộng cũng hoang tàn
            Thiên thu ơi cứ phụ phàng nữa đi
Những tác phẩm thơ đặc sắc của ông gồm có: Hỡi người tóc suối áo bay, Thân phận,  Gió bấc trẻ nhỏ đoá hồng và dế, Hơi thở ánh trăng và mặt đất…

Từ Thế Mộng: Ông sinh năm 1937 tại Huế. Sĩ quan bộ binh Trung Đoàn 47 thuộc SĐ 22/BB. Mất năm 2007 tại Phan Thiết. Thơ ông rất lạ:
            Ước chi là chiếc cặp da
            Để em ôm siết nõn nà tay nương
Trong tập văn Dáng Mẹ Trăm Chiều, ông dùng văn chương để nói lên nỗi lòng của mình về một người Mẹ ông hằng luôn kính trọng và biết ơn qua những năm tháng sống bên Mẹ trong tuổi thơ cơ cực: « Má lầm lũi nuôi con, cánh xoè khói súng. Không phải một lần mà biết bao nhiêu lần như vậy, má lao vào cõi tơi bời đó, không chần chừ, e ngại. Má kiệt sức ! Má như trườn như lết, chịu tủi chịu nhục… ». Ông còn được bạn bè gọi là thi sĩ mê gái. Trong « Biển màu hoa vàng » ông viết:
            Biển đang xanh
            Bỗng dưng vàng rực đến
            Em bỗng dưng vàng
            Áo mỏng manh…
            Gót chân son
            Em qua triền cát lún
            Sao dấu chân
            In tận trái tim mình
Những tác phẩm đặc sắc của ông gồm có: Lẽo đẽo một phương quỳ, Dáng Mẹ trăm chiều, Thơ Từ Thế Mộng, Trường ca má thân yêu…

Nguyến Bắc Sơn: Ông sinh năm 1944 tại Phan Thiết. Thơ ông được xem như có một phong cách ngang tàng và đầy khẩu khí. Đây hãy nghe NBS thốt lên:
            Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
            Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
            Lũ chúng ta sống một đời vô vị
            Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Những tác phẩm đặc sắc của ông gồm có: Chiến tranh VN và tôi, Căn bệnh thời chiến, Bài hát khổ nhục, Tiệc tẩy trần của người sống sót…



Phạm Ngọc Lư: Ông sinh năm 1946 tại Thừa Thiên. Hiện cư ngụ trong nước. Tốt nghiệp trường quốc gia sư phạm Qui Nhơn sau đó dạy học ở Tuy Hoà. Thơ văn ông nói nhiều về sự cùng cực của những năm tháng nhọc nhằn mưu sinh trong thời buổi nhiễu nhương. Ông viết:
            Mười lăm năm nát thân Kiều
            Còn thân ta nát bao nhiêu năm rồi
            Đoạn trường tuế nguyệt gấp đôi
            Từ đêm trắng mộng, vốn lời trắng tay !
Những tác phẩm đặc sắc của ông gồm có: Đan tâm, Mây nổi…



Khuất Đẩu: ông sinh năm 1940 tại Bình Định. Trước năm 1975 ông dạy học tại Khánh Hoà. Đọc văn ông, người ta thường thấy có những bối cảnh, những diễn biến rất bi thảm. Những nhân vật trong văn ông phải chịu những tấn tuồng đầy tủi nhục và oán hờn. Giọng văn thản nhiên của ông khi miêu tả những cảnh tượng đấu tố, bắt bớ, giết người v.v…khiến người đọc rùng mình. Đây là một đoạn trong Những Tháng Năm Cuồng Nộ: “…trong khi mọi người đang ngẩn ngơ và người đàn bà chửa đang đỏ mặt mắc cỡ vì cái bụng to kềnh của mình thì cô Thành (ghi chú: cô này là cán bộ Việt Minh trong truyện) nghiêng bàn tay như một cái dao kéo từ ngực kéo xuống. Cô nói mổ bụng lôi đứa nhỏ trong này ra ! Tức thì có nhiều tiếng rú thất thanh, nhiều người đưa tay ôm mặt không dám nhìn.  Người đàn bà chửa thì ngất xỉu tự bao giờ, chân tay lạnh ngắt…”.

Vũ Hữu Định: Ông sinh năm 1942 tại Thừa Thiên, sinh sống tại Đà Nẵng. Ông đã nổi tiếng với bài thơ “Còn một chút gì để nhớ” đã được phổ nhạc sau này mà tôi xin trích một đoạn ở đây:
            Phố núi cao phố núi đầy sương
            Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
            Anh khách lạ đi lên đi xuống
            May mà có em đời còn dễ thương…
            Phố núi cao phố núi trời gần
            Phố núi không xa nên phố tình thân
            Đi dăm phút đã về chốn cũ
            Một buổi chiều nào lòng vẫn bâng khuâng
            Em Pleiku mà đỏ môi hồng
            Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
            Nên mắt em ướt và tóc em ướt
            Da em mềm như mây chiều trong…
            Xin cảm ơn thành phố có em….
Ông qua đời năm 1981 để lại hai tác phẩm: Còn một chút gì để nhớ, Thơ Vũ Hữu Định toàn tập.

Lê Văn Thiện: Ông sinh năm 1947 tại Khánh Hoà. Ông tốt nghiệp khoá HSQ 47 tại Đồng Đế, Nha Trang và phục vụ tại Tiểu Đoàn 1 BB. Sau 30 tháng 4 năm 75, ông đi tù cải tạo và sau khi ra khỏi trại, ông về làm nhà nông tại Ninh Hoà. Những tác phẩm đặc sắc của ông trước 75 gồm có: Một cách buồn phiền, Sao không như ngày xưa. Nhà văn Trần Hoài Thư đã xuất bản tập Thư Quán Bản Thảo năm 2010 tại Hoa Kỳ trong đó có rất nhiều bài giới thiệu nhà văn chiến tranh Lê Văn Thiện và truyện Một cách buồn phiền đã được in lại (mà các bạn có thể viết về Thư Ấn Quán ở New Jersey để tìm mua, xin tìm địa chỉ qua các bài trên talawas).



Linh Phương: Ông sinh năm 1949 tại Sài Gòn. Trước năm 1975, ông là quân nhân thuộc Tiểu Đoàn 6 TQLC. Bài được biết đến nhiều nhất của ông là bài thơ Kỷ Vật Cho Em mà tôi xin trích một đoạn dưới đây:
            Thì thôi ! Hãy nhìn nhau xa lạ
            Em nhìn anh ánh mắt chưa quen
            Anh nhìn em anh sẽ cố quên
            Tình nghĩa cũ một lần trăn trối…
            Em hỏi anh, em hỏi anh
            Bao giờ trở lại….

Và còn rất nhiều tác giả trong nhóm VTSMNT75 nữa mà tôi chưa có dịp biết đến….
Tôi xin tạm ngừng với 10 tác giả vừa kể và mong rằng tôi đã “mua vui cũng được một vài trống canh”…

Xin tạm ngừng bút ,

Nguyễn Duy Vinh (Yaoundé cuối mùa mưa 2013)